Tính lượng tấm magie cho xưởng làm khuôn không nên bắt đầu từ số khuôn dự kiến rồi nhân một mức cố định. Mỗi kế hoạch cần đổi danh sách khuôn thành diện tích phôi thực phải mua, sau khi tính khổ tấm, sơ đồ cắt, phần dư, tấm thử và phần làm lại đã có dữ liệu.

Ai cần lập kế hoạch tấm Magie theo dữ liệu khuôn

Người mua hàng cần biết quy cách nào phải đặt. Kỹ thuật cần biết phần phôi có đủ cho file, độ dày và tuyến gia công. Kho cần biết phần dư nào còn dùng được mà không lẫn với tấm mới. Ba vai trò này nên dùng một bảng kế hoạch chung, vì một con số tồn kho không cho biết các tấm đó có đúng khổ, đúng độ dày và đúng trạng thái bề mặt cho đơn sắp tới hay không.

Đừng lấy dữ liệu từ tấm MgO xây dựng trên kết quả tìm kiếm để ước lượng phôi khuôn. Bài tấm Magie làm khuôn đặt đúng phạm vi: phôi Magie kim loại phải khớp phương pháp làm khuôn, độ dày, khổ và tình trạng bề mặt. Trang vật tư hiện công bố các lựa chọn độ dày, còn quy cách cụ thể cần xác nhận theo nhu cầu.

Checklist dữ liệu đầu vào trước khi tính lượng tấm Magie

  1. Chốt danh sách khuôn dự kiến theo từng độ dày và quy cách. Không gộp tấm khác độ dày vào một dòng tồn kho chỉ vì cùng là Magie.
  2. Lấy diện tích phôi từ sơ đồ cắt, không chỉ từ hình thiết kế. Mỗi phôi cần vùng hình, phần dư, vị trí giữ/kẹp và mép kiểm.
  3. Tách tấm thử khỏi sản lượng dự kiến. Tấm thử là cổng xác nhận quy trình, không nên âm thầm lấy từ phần dư của đơn đang gấp.
  4. Ghi phần dư có thể dùng tiếp theo mã lô, kích thước còn lại và trạng thái bề mặt. Một phần dư không truy được dữ liệu không nên được tính như tồn khả dụng.
  5. Đọc dữ liệu làm lại của các tháng trước theo đúng loại công việc. Không dùng tỷ lệ của một file đơn giản để dự phòng cho nhóm khuôn nhiều chi tiết.

Công thức theo diện tích cần cắt và diện tích thực mua

Bảng kế hoạch có thể dùng công thức khái quát sau:

Diện tích phôi cần chuẩn bị = tổng diện tích phôi theo sơ đồ cắt + diện tích tấm thử + phần dự phòng đã có dữ liệu.

Số tấm cần mua = làm tròn lên của (diện tích phôi cần chuẩn bị − diện tích tồn khả dụng đã kiểm) / diện tích dùng được của một tấm theo quy cách.

Các biến trong công thức phải được lưu theo từng độ dày và khổ tấm. “Diện tích dùng được” không phải diện tích hình học của tấm; đó là phần còn lại sau mép không dùng, vùng biến dạng nếu có và phần cần chừa để cắt an toàn. Cắt tấm Magie làm khuôn giải thích vì sao sơ đồ cắt cần được tính trước, không bổ sung sau khi hàng về.

Dữ liệu cần ghiLấy ở đâuDùng để quyết địnhKhông thay bằng
Danh sách khuônLệnh sản xuất đã duyệtNhu cầu theo độ dày, khổ và lịchTổng số đơn không có file
Sơ đồ cắtFile bố trí phôiDiện tích phôi và phần dư thựcDiện tích hình ép đơn lẻ
Tấm thửKế hoạch kỹ thuậtPhần phôi cần giữ riêngPhần dư không rõ lô
Tồn khả dụngKho đã kiểm bề mặt/lôPhần được phép trừ khỏi nhu cầu muaMọi tấm đang nằm trong kho
Dữ liệu làm lạiHồ sơ mẻ trướcDự phòng theo loại công việcMột mức dự phòng áp cho mọi tháng
Sơ đồ chuyển danh sách khuôn thành sơ đồ cắt, tồn khả dụng và lượng cần đặt
Luồng tính nhu cầu phôi Magie

Cập nhật bảng kế hoạch theo từng kỳ

Mở đầu kỳ, khóa danh sách khuôn đã đủ dữ liệu; giữ riêng các đơn chưa có file hoặc đang đổi hiệu ứng. Những đơn chưa chắc chỉ nên nằm trong phần “chờ xác nhận”, không đi vào số mua cứng.

Khi một lô phôi về, kiểm lại độ dày, khổ, bề mặt và nhận diện lô trước khi cộng vào tồn khả dụng. Việc này nối kế hoạch mua với checklist kiểm tra tấm Magie khi nhận hàng. Nếu một tấm có vết trầy, oxy hóa hoặc không rõ quy cách, nó không phải nguồn dự phòng cho đơn kế tiếp.

Cuối kỳ, ghi diện tích thực đã dùng, phần dư thật còn lại, tấm thử đã tiêu thụ và số phôi phải làm lại theo từng nhóm file. Mục đích không phải làm bảng phức tạp hơn; nó giúp kỳ sau thay dự phòng cảm tính bằng dữ liệu của chính xưởng.

Đối chiếu: tồn kho danh nghĩa và tồn kho dùng được

Trạng thái tấm trong khoCó thể trừ khỏi kế hoạch mua?Điều kiện
Tấm đúng độ dày, khổ, bề mặt đã kiểm và mã lô rõCóSơ đồ cắt còn lấy được phôi phù hợp
Phần dư có kích thước và trạng thái đã ghiCó điều kiệnPhải khớp file mới và còn vùng dùng được
Tấm còn đúng loại nhưng không rõ lô hoặc đã để lâu không kiểmChưaKiểm lại trước khi đưa vào tính toán
Tấm sai độ dày hoặc sai mục đích gia côngKhôngTách khỏi kế hoạch của nhóm khuôn này
Tấm có bất thường bề mặt hoặc mépKhôngCách ly, xác minh hoặc xử lý theo quy trình

Vì sao sơ đồ cắt quyết định lượng mua hơn số lượng khuôn

Hai khuôn có thể có cùng diện tích hình nhưng lấy ra từ tấm rất khác nhau: một khuôn đặt vừa với sơ đồ, khuôn kia làm phát sinh dải dư không dùng tiếp được; một file cần vùng giữ rộng, file khác có thể bố trí sát hơn theo quy trình. Vì vậy số lượng khuôn không tự chuyển thành số lượng tấm.

Sơ đồ cắt cũng là nơi phần dư trở thành dữ liệu thực tế. Nếu phần dư được đo, nhận diện theo lô và kiểm bề mặt, nó có thể giảm lượng đặt của kỳ sau. Nếu bị đặt lẫn với tấm chưa kiểm, phần dư chỉ tạo ảo giác tồn kho rồi gây thiếu phôi đúng lúc. Đây là lý do kế hoạch tốt phải đi cùng quy tắc kho, không chỉ là phép chia diện tích.

Sơ đồ phân biệt tồn kho danh nghĩa với phần tấm còn dùng được theo quy cách
Tồn kho dùng được cần có quy cách và nhận diện lô

Hành động chốt kế hoạch mua phôi

  1. Lập bảng nhu cầu riêng cho từng độ dày và khổ tấm, gắn với danh sách khuôn đã được duyệt file.
  2. Chuyển từng khuôn thành sơ đồ cắt, ghi diện tích phôi, phần dư, vùng mép và tấm thử cần có.
  3. Kiểm tồn thực tế trước khi trừ, chỉ ghi nhận tấm hoặc phần dư có quy cách, tình trạng bề mặt và mã lô rõ.
  4. Dự phòng bằng dữ liệu làm lại và tấm thử của xưởng, rồi xem lại mức này sau từng kỳ.
  5. Đưa quy cách và số lượng dự kiến vào yêu cầu mua, không gửi một yêu cầu chung chung là “mua thêm tấm Magie”.

Áp dụng thực tế

Khi bảng kế hoạch đã chỉ ra quy cách cần bổ sung, trao đổi tại trang nguyên vật liệu in với độ dày, khổ tấm và số lượng dự kiến. Nếu số liệu cho thấy xưởng chưa có tuyến phôi ổn định hoặc nhu cầu là khuôn hoàn thiện, hãy so với phương án khuôn ăn mòn thay vì mua tấm theo dự đoán. Mẫu hàng cuối chỉ là bối cảnh để xác định hiệu ứng; quyết định mua vẫn nằm ở file khuôn và kế hoạch phôi.

Cần báo giá khuôn Magie ép kim?

Gửi 4 thông tin sau để Etch Lab báo giá đúng:

  • File thiết kế dạng vector (AI, EPS hoặc PDF vector)
  • Kích thước khuôn
  • Loại giấy ép
  • Số lượng dự kiến