Khuôn dập nổi nhiều tầng bắt đầu khi ý đồ nổi được tách thành các vùng có cao độ, thứ tự và mốc căn. Mỗi tầng phải được duyệt cùng khuôn âm bản và chất liệu ép trước khi chuyển thành mặt cắt thật.

Khuôn dập nổi nhiều tầng khác gì khuôn một mặt làm việc

Dập nổi là biến dạng có chủ đích của chất liệu ép giữa mặt khuôn và khuôn âm bản. Quy trình làm khuôn ép kim cho thấy chuỗi chung từ file đến nghiệm thu; riêng bài này tập trung vào dữ liệu phải bổ sung khi một vùng nổi đơn trở thành nhiều cao độ. Với một vùng nổi đơn, brief có thể chỉ cần xác định phần nào nâng lên và phần còn lại giữ nền. Với nhiều tầng, một thiết kế có từ ba cao độ trở lên: nền, tầng giữa, tầng cao, hoặc các vùng chuyển tiếp được chốt như những phần riêng của mặt cắt.

Khác biệt nằm ở quan hệ giữa các bậc chứ không chỉ ở số đường viền. Hai vùng có thể nhìn tách biệt trên màn hình nhưng khi ép lại chia cùng một đường chuyển, cùng một góc gấp hoặc cùng một mốc gá. Nếu người làm file chỉ tô màu cho chúng mà không ghi thứ tự, xưởng không biết vùng nào cao hơn, vùng nào là nền, và khuôn âm bản phải bù ở đâu.

Đây cũng không phải tên gọi khác của ép kim 2 tầng. Khuôn hai tầng dùng hai mức làm việc để gộp vùng nhũ nổi với vùng nhũ phẳng trong một lượt ép; khuôn dập nổi nhiều tầng tập trung vào hình khối của chất liệu ép và có thể cần một cấu trúc phức tạp hơn. Cần gọi đúng hiệu ứng trước khi bàn vật liệu hoặc báo phương án khuôn.

Sơ đồ tách nền, tầng giữa và tầng cao trên cùng hệ mốc
Các vùng tầng của file dập nổi nhiều tầng

Bốn bước biến ý đồ nổi thành dữ liệu làm khuôn

Chốt vùng nào thực sự cần thành tầng

Bắt đầu từ bản ép cần nhìn thấy ở kích thước thật. Khoanh từng vùng theo vai trò: nền giữ phẳng, vùng nâng vừa, vùng nâng cao và vùng chỉ là nét in. Đừng cho mọi phần của hình thành tầng chỉ vì có thể tạo hiệu ứng; nhiều vùng nổi sát nhau dễ làm ánh sáng và đường biên cạnh tranh, khiến hình thiếu điểm nghỉ.

Mục đích của bước này là tạo một danh sách vùng có thể duyệt, không phải hoàn thành bề mặt trang trí. Lỗi thường gặp là dùng chuyển màu, bóng đổ hoặc hiệu ứng ba chiều của phần mềm như chỉ dẫn cao độ. Những hiệu ứng hiển thị đó không phải mặt cắt kỹ thuật. File cần dùng lớp hoặc màu quy ước được giải thích bằng chú giải, chứ không dùng cảm giác đậm nhạt làm dữ kiện sản xuất.

Đặt thứ tự cao độ và mặt cắt tham chiếu

Sau khi có vùng, nêu quan hệ giữa chúng: tầng nào cao nhất, tầng nào nằm giữa và vùng nào là nền. Với chỗ hai tầng gặp nhau, chỉ định cần chuyển bậc rõ hay chuyển mềm theo mẫu đã duyệt. Nếu một vùng phải nổi nhưng vùng cạnh nó không được biến dạng, mối nối đó cần được đánh dấu; không thể để người làm khuôn tự suy từ bản vẽ nhìn từ trên.

Mặt cắt tham chiếu là cách ngắn nhất để mọi bên cùng nói về một điều. Nó không cần chứa thông số không có nguồn công khai, nhưng cần cho thấy cấu trúc tương đối và chiều nhìn. Một hình chính diện đúng vẫn có thể cho mặt cắt sai nếu không nói phần nào cao hơn hoặc đế nào là chuẩn.

Giữ một hệ mốc cho khuôn và khuôn âm bản

Khuôn dập nổi không chỉ là một tấm mang hình. Khuôn âm bản phải khớp với phần dương để đẩy chất liệu ép theo đúng vùng. Vì vậy file cần có mốc căn chung, hướng đặt tờ và các vùng không được dịch độc lập. Những chi tiết trang trí sát mép hoặc sát đường gấp cần được đánh dấu vì vị trí thực trên tờ ảnh hưởng trực tiếp đến lần gá.

Lỗi thường gặp là sửa một tầng nhưng quên cập nhật lớp mốc hoặc phiên bản khuôn âm bản. Kết quả có thể là hai phần đúng riêng lẻ nhưng không gặp nhau đúng khi ép. Bài lật ngược file làm khuôn giúp kiểm hướng hình; với nhiều tầng, thao tác đó phải được thực hiện cho cả bộ lớp, không chỉ lớp nhìn thấy rõ nhất.

Duyệt mẫu trên chất liệu ép dự kiến

Sau file, mẫu ép là điểm duyệt thực tế. Giấy có gân, bìa dày, vật liệu đã cán màng hay da không nhận biến dạng như nhau. Mẫu giúp xác nhận sự phân cấp còn đọc được, mép bậc không làm nhăn vùng bên cạnh và phần nổi không che mất nét cần nhìn. Nó cũng cho người đặt cơ hội giảm bớt tầng nếu hiệu ứng nhìn thật quá dày so với bản vẽ.

Không thay mẫu ép bằng ảnh mockup trên màn hình. Mockup không mang thớ, độ cứng, phản xạ hay chiều nhìn xiên của vật liệu. Khi hiệu ứng liên quan nhũ, cần xét cả ranh giới giữa dập nổi và vùng nhận nhũ; đừng để một thay đổi cao độ được duyệt mà vùng nhũ lại bị bỏ qua.

Bảng đối chiếu cấu trúc khuôn trước khi nhận đơn

Kiểu yêu cầuMặt cắt cần diễn tảFile cần thêmĐiểm duyệt chính
Khuôn phẳngMột mặt tiếp xúc, nền và hình cơ bảnVùng ép, chiều lật, kích thướcBiên nét và vị trí gá
Khuôn hai tầngHai mức làm việc cho vùng nhũ phẳng và nhũ nổiHai lớp chức năng, vùng nhũ và vùng nổiMối quan hệ hai bậc trên chất liệu thật
Khuôn dập nổi nhiều tầngNhiều cao độ liên tiếp hoặc vùng chuyển có thứ tựSơ đồ tầng, mặt cắt, hệ mốc chungMẫu ép, khuôn âm bản và mốc căn
Khuôn dập nổi điêu khắcBề mặt cong liên tục, không chỉ bậc phẳngMẫu hình khối và hướng ánh sáng mong muốnBề mặt thật ở nhiều góc nhìn

Bảng không thay người kỹ thuật quyết định được mọi mặt cắt, nhưng nó giúp sales không nhận một yêu cầu nhiều tầng như thể là khuôn phẳng có thêm vài đường viền. Nếu brief chưa có sơ đồ tầng, câu trả lời nên là yêu cầu bổ sung dữ liệu chứ không phải tự suy ra từ hình minh họa.

Mặt cắt các bậc khuôn và tấm đối áp
Mặt cắt minh họa các bậc của khuôn dập nổi

Cơ chế vì sao mặt cắt quyết định hiệu ứng hơn là đường viền

Khi ép, khuôn và khuôn âm bản không chỉ đánh dấu một đường trên bề mặt. Chúng phân bố lực để dịch chuyển sợi hoặc cấu trúc của chất liệu ép thành hình khối. Vùng cao hơn chạm hoặc đẩy khác với vùng thấp hơn; khoảng chuyển giữa chúng quyết định mép nổi là một rìa có chủ đích hay là một nếp gãy khó đọc.

Vì lực truyền qua vật liệu có hướng, đường viền nhìn từ trên không kể hết câu chuyện. Hai file có cùng hình tròn có thể cho hai kết quả khác: một file xác định vòng tròn là tầng cao trên nền, file kia xác định nó là tầng giữa nằm cạnh một vùng cao hơn. Ở lần ép, ánh sáng, độ đổ bóng tự nhiên và cảm giác khi chạm sẽ khác, dù đường bao giống nhau.

Cơ chế đó giải thích vì sao không được chữa lỗi mặt cắt bằng tăng áp lực. Áp lực có thể làm biến dạng mạnh hơn, nhưng không tạo ra thứ tự tầng chưa được khắc trên bộ khuôn. Tăng lực còn có thể làm mép nhăn hoặc làm vùng mỏng biến dạng không đều. Nếu mẫu cho thấy tầng không đọc được, cần quay về brief: giảm số tầng, đổi phạm vi hiệu ứng hoặc điều chỉnh cấu trúc khuôn trước khi chạy đơn.

Ví dụ: một biểu tượng có vòng ngoài, vòng giữa và tâm đều được yêu cầu nổi. Nếu cả ba cùng cao, mắt chỉ thấy một mảng lớn. Nếu vòng giữa là tầng chuyển và tâm là tầng cao, người xem đọc được trọng tâm. Khác biệt nằm ở mặt cắt được duyệt, không nằm ở việc thêm nhiều đường nét cho logo.

Checklist file và mẫu cho khuôn dập nổi nhiều tầng

  1. Tách lớp theo cao độ: đặt tên từng lớp theo nền, tầng giữa, tầng cao hoặc chức năng đã chốt; không dùng bóng đổ làm dữ liệu.
  2. Kèm một mặt cắt: thể hiện quan hệ cao thấp và điểm chuyển ở vùng quan trọng, có hướng nhìn và kích thước thật của hình.
  3. Chốt hướng tờ và hệ mốc: đặt mốc căn chung để file khuôn, khuôn âm bản và vị trí trên tờ không bị hiểu khác nhau.
  4. Đánh dấu vùng nhạy cảm: nêu nét mảnh, khoảng hở, mép gấp, vùng sát lề hoặc chỗ không được biến dạng.
  5. Gửi mẫu chất liệu ép: kèm giấy hoặc mô tả bề mặt, độ dày dự kiến và các hiệu ứng khác đã có trên cùng mặt.
  6. Duyệt mẫu ở góc nhìn thật: kiểm độ nổi, mép bậc, ranh giới nhũ nếu có và sự khớp của tất cả tầng trước khi chốt sản xuất.

Áp dụng thực tế

Khi brief đã có sơ đồ tầng và mẫu chất liệu, xem khuôn Magie dập nổi để chuẩn bị yêu cầu theo nhóm khuôn dập nổi. Etch Lab cần file thiết kế dạng vector, kích thước và loại chất liệu ép để xem khuôn cùng khuôn âm bản theo hiệu ứng cần đạt; không nên gửi một ảnh tham khảo rồi mặc định đó là đủ dữ liệu nhiều tầng.

Cần báo giá khuôn Magie ép kim?

Gửi 4 thông tin sau để Etch Lab báo giá đúng:

  • File thiết kế dạng vector (AI, EPS hoặc PDF vector)
  • Kích thước khuôn
  • Loại giấy ép
  • Số lượng dự kiến